1
Bạn cần hỗ trợ?
Hội chứng bệnh theo YHCT

Chứng tỳ khí hư

Khái niệm

Tỳ khí hư còn gọi là Tỳ khỉ bất túc, Trung khí bất túc. Chứng Tỳ khí hư là chỉ Tỳ không vận chuyển mạnh và nguyên khí bãt túc mà hình thành chứng hâu Tinh khí bị mất thì hư, Khí hóa sinh từ tinh, tinh sinh ra từ thủy cốc; mà sự vận hóa thủy cốc, hấp thu và phân bố đều dựa vào sự thịnh suy của Tỳ. Nếu Tỳ khí bất túc, Tỳ mất sự vận chuyển mạnh thi thủy cốc không biến hóa được. Thủy cốc không biến hóa thì tinh sẽ thiếu, Tinh thiếu thỉ khí suy. Mục Âm thực lao quyện sở thương thủy vi nhiệt trung luận sách Tỳ Vị luận có nói: “Tỳ Vị khí suy, nguyên khí bất túc”. Nguyên nhân phần nhiều do ăn uống không điều độ, mệt nhọc quá sức, ưu tư kéo dài, tổn thương đến Tỳ thổ; hoặc phú bẩm bất túc, thể trạng vốn hư yếu, hoặc cao tuổi thể lực yếu, hoặc ốm nặng vừa mới khỏi, điều dưỡng không đầy đủ v.v…

Chứng trạng chủ yếu trên lâm sàng của chứng Tỳ khí hư là ăn uống không mạnh, ãn vào no ngay hoặc bụng trướng đầy sau khi ăn, miệng không biết ngon, thậm chí hoàn toàn không nghĩ gì đến ăn, đại tiện lỏng nhão, tinh thần uể oải, thiểu hơi biếng nói, chân tay rã ròi, mỏi mệt hay nàm, sác mật vàng bủng không tươi, gày còm, chất lưỡi nhạt hoặc nhạt bệu có vết rãng, rêu lưỡi tráng mỏng, mạch Nhược vô lực.

Chứng Tỳ khí hư thường gặp trong các bệnh Tiết tả, Vị quản thống, Phúc thống, Thủy thũng, Đàm ẩm, Háo suyễn, chứng Nuy,

Hư lao và chứng Tiểu nhi cam tích.

Chứng Tỳ khí hư dễ lẫn lộn với các chứng Tỳ dương- hư; chứng Tỳ hư thấp khốn, chứng Tâm Tỳ đêu hư. Lâm sàng nên chú ý phân biệt.

Phân tích

Tỳ Vị là gốc của Hậu thiên. Mục Tỳ Vị hư thực truyền biến luận sách Tỳ Vị íuận nói: ”Khí của Tỳ VỊ đã tổn thương, nguyên khí cũng không đầy đủ, đó là lý do phát sinh ra các tật bệnh vậy”, Một khi Tỳ khí bị hư, là nguyên nhản nổi lên của mọi bệnh. Nhưng trong các tật* bệnh khác nhau, biểu hiện làm sàng về bệnh cơ và phép chữa chứng Tỳ khí hư đều không giống nhau, cần phân tích kỹ-

Trong bệnh Tiết tả xuất hiện chửng Tỳ khí hư, có đặc điểm là thường gập nhiều ở người đi tả kéo dài, chính vỉ vậy mới gọi là Tỳ hư tiết tả. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đi tả lâu ngày không khỏi, đò ãn không tiêu hóa, đại tiện lúc lỏng lúc nhão, lúc nhẹ lúc nặng. Khi àn nhiều hoặc ãn các thức dầu mỡ thường đày bụng sôi bụng, đau bụng ỉa chấy nhiều lần. Nguyên do vì Tỳ khí hư yếu, vận hóa mất quyền, thủy thấp không biến hóa được nên án vào không tiêu, trong đục không phân, cho nên đại tiện lỏng nhão và kéo dài không khỏi. Mục Tiết tả nguyên lưu sách Thẩm Thị tôn sinh thư nói: “Một chứng Nhu tiết còn gọi là Đỗng tiết là do thấp quá nặng, tức là tiết tả do Tỳ hư, vì thổ hư không khống chế được thủy thấp, VỊ Trường không bền, Thấp tà thắng mà thành bệnh”. Trương Cảnh Nhạc viết trong mục Tạp bệnh mô sách Cảnh Nhạc toàn thư, đoạn bàn về các bệnh Tiết tả có nói: “nếu chí vì Tỳ hư, chỉ các loại bài thuốc như Tứ quân tử thang, Sâm truật thang, Sâm linh bạch truật tán là nên dùng”.

Nếu các bệnh VỊ quản thống, Phúc thống xuất hiện chứng

Tỳ hư, bộ vị đau ở VỊ quản hoặc phía trên rốn, nguyên nhân đau đa số do thể chất vốn Tỳ VỊ hư yếu hoặc ốm lâu, bệnh nặng vừa khỏi lại tổn thương Tỳ VỊ, hoặc mệt nhọc, quá độ khiến cho Tỳ khí không vân chuyển mạnh mà thành bệnh, đặc điểm chứng đau là liên miên dằng dai, chứng trạng lúc nhẹ lúc nặng, bệnh tình kéo dài, ưa xoa bóp, gặp ấm thì giảm đau, trên lâm sàng, các chứng Vị quản thống, Phúc thống với Tỳ VỊ dương hư thuộc VỊ thống hư hàn và Phúc thống rất khó phân biệt dứt khoát, vì Khí cũng thuộc Dương, đau thuộc Dương hư tức là đau thuộc khí hư phát triển thêm một bước, điều trị nên kiện Tỳ ích khí ôn trung, cho uống các bài Tiểu kiến trung thang, Hoàng kỳ kiến trung thang (Kim Quỹ yếu lược).

Nếu bệnh Thủy thũng thấy chứng Tỳ khí hư, có đặc điểm phù thúng bắt đầu tĩi mi mát dưới, buổi sáng phù ỏ đầu mặt khá rõ* sau khi mệt nhọc thì chi dưới phù nặng, thậm chí phù thũng toàn thân, tiểu tiện bình thường hoặc ít hơn. Mục Thủy trướng sách Linh Khu nđi: “Lúc bát đầu bị bệnh Thủy, mi mất hơi sưng như mới ngủ dậy, khi ho thời nổi động mạch ở cổ, bên trong bắp đùi lạnh, ống chân phù, bụng to, đó là đă hình thành bệnh Thủy”. Đây là loại phù thũng thoạt tiên từ mi mát, thứ đến ống chân, cuối cùng là thũng ở bụng và toàn thân, phần nhiều do Tỳ khí bất túc gây nên. Mục Thũng trướng nguyên lưu sậch Thẩm thị tôn sinh thư viết: “Bệnh Thủy thời Tỳ tất hư, cho nên chủ yếu phải kiện Tỳ”, và “lý khí dưỡng Tỳ để chữa từ gốc bệnh, khiến cho Tỳ khí bền chác mà vận hóa mạnh, thủy sẽ tự lưu thông”, cho uống bài Sâm Truật kiện Tỳ hoàn (Thẩm thị tôn sinh thự) hoặc dùng Lục quân tử thang (Phụ nhân lương phương) hợp với Ngũ linh tán (Thương hàn luận) gia giảm.

Trong bệnh Đàm ẩm xuất hiện chứng Tỳ khỉ hư thì đàm ra phải trong loãng hoặc có bọt, lượng nhiều và dễ ho. vì Tỳ khí

ở trung tiêu bãt túc, chức năng kiện vận giảm sút, thủy thấp không hóa cho nên tân dịch ứ đọng lại, thãp tụ thành đàm, cho nên có thuyết nói “Tỳ là cái nguồn sinh ra đàm, chữa Đàm mà không ỉý Tỳ là không biết chữa”. Mục Đàm ầm sách Y tôn tất độc viết: Tỳ thổ bị hư do thấp, dùng phép thanh khó mà thảng lén. trìí cái trọc khó mà giáng xuống, lưu trệ õ trong ruột, ử lại thành .đàm; cho nên chữạ Đàm trước tiên phải bổ Tỳ, Tỳ hòi phục vận chuyển bình thjường thì đàm tự hoá”, sử dụng các bài Nhị tràn thang ‘Hòa té -cục phương), Bạch truật hoàn (Khiết Cổ gia chân), Lục quân tử thang (Phụ nhản lương phương) gia giảm.

Chứng Tỳ khí hư xuất hiện trong bệnh HáQ súyễn, phần nhiêu gập ở trẻ em bẩm phú không đầỵ đủ, Tỳ thổ Vốn yếu, thủy cốc không biến hóa được chẫt tinh vi biến thành đàm trọc trú ngụ ở trong; Mỗi khi ãn uống không thỏa đáng hoặc cảm nhiễm ngoại tà thi chủng trạng Háo suyễn phát ra đột ngột, thở hút phát thành tiếng khò khè không dứt. Ngay khi đang có cơn, nên phận biệt chỗ khác nhau vê nóng lạnh, để áp dụng phép giáng nghịch binh suyễn; Khi cơn đã êm dịu, nên lấy kiện Tỳ để củng cố cái gốc, dùng các bài. thuốc Tam tử dưỡng thân thang (Hàn thị y thông) Ỹĩhị trần thang. Lục quân tử thang gia giảm.

Trong bệnh Nuy xuất hiện Tỳ khí hư, chân tay mềm yếu vô lực, chứng trạng dân dần nặng thêm; Dương minh Tỳ thổ chù về tứ chi cơ nhục, làm nhuận tôn cân, bó chặt gân xương và lợi các khớp; Tỳ thổ hư thì khí huyết thiếu, tôn cân không nhuận, gân xương lỏng lểo, chân tay yếu liệt không điều khiển được, cho nên có thuyết nói: “Chứng Nuy cứ chọn Dương minh”. Mục Nuy chứng sách Y học chính truyền viết: “Tỳ tổn thương thì chân tay không vận động được mà thành chứng Nuy..; Dương minh thực – đầy đủ – thỉ tôn cân nhuận, có thể bền chác xương mà lợi các khốp. Phép chữa Nuy, không ra ngoài việc chiếu cố Dựơng minh”, cho uống các phương Tứ .quân tử thang, Sâm linh bạch truật tán (Hòa tễ cục phương) gia giảm.

Trong bệnh Hư lao nội thương phát nhiệt, xuất hiện chứng Tỳ khí hư, thì phải thấy cơ thể vốn có chứng Tỳ hư, xu thế nhiệt hoặc cao hoẹc thấp, sau khi mệt nhọc bệnh càng nặng, dằng dai lâu ngày không khỏi. Lý Đông Viên viết sách Tỳ Vị luận có nói: “Ăn uống mệt nhọc bị tổn thương, bát đàu ỉà bệnh Nhiệt trung”, tức là Tỳ khí hư mà phát nhiệt, điều trị nên bổ trung ích khí, dùng thuốc ngọt ấm để trìí nhiệt, cho uống bài Bổ trung ích khí thang (Tỳ Vị luận) gia giảm.

Bệnh Hư lao mà thấy chứng Tỳ khí hư, đại da số là Hư lao thuộc chứng nhẹ, biểu hiện lâm sàng có đặc điểm như mục Tỳ hư Tạng Phủ kinh lạc giai vô sở thụ khí nhi câu bệnh luận sách Tỳ VỊ luận của Lý Dông Viên có nói: “Ăn vào thì mỏi mệt, tinh thần choáng váng mà muốn ngủ, đó là Tỳ suy nhược”; điều trị nên kiện Tỳ ích khí, cho uống bài Bổ trung ích khí thang gia Sa nhân (Phong lao cổ cách tứ đại chứng trị) hoặc Hương sa dưỡng vị hoàn (Từ Hy thái hậu y phưang tuyền nghị). m

Tỳ VỊ là gốc của Hậu thiên, ở trung tiêu để tưới kháp bốn bên, ăn uống vào Vị, Tỳ khí tán tinh, năm Tạng sáu Phù đều được tư dưỡng. Mục Tạp chúng mô, Tỳ VỊ, sách Cảnh Nhạc toàn thư cổ ntíi: “Trong nám Tạng đều có Tỳ khí, mà trong Tỳ VỊ cũng đều có khí của năm Tạng… cho nên khéo chữa Tỳ, có thể điều hòa năm Tạng, tức là có thể chữa được Tỳ Vị; Cđ thể chữa Tỳ Vị khiến cho ãn được, VỊ khỏe mạnh, tức là có thể làm yên được nãm Tạng”. Tỳ VỊ khí hư, trảm bệnh sinh ra tứ đó, vả lại trong quá trình nhiều loại tật bệnh cũng có chứng Tỳ khí hư. hàng loạt biểu hiện tuy đều không giống nhau, nhưng đều có đặc điểm, đủ lãm chỗ dựa cho chẩn đoán phân biệt.

Chứng Tỳ khí hư phần nhiều gặp ở trẻ sơ sinh và nhi đồng do tiên thiên bất túc hoặc hậu thiên châm sóc nuôi nấng không thòả đáng, hoậc ở người cao tuổi thể lực yếu, hoậc mác bệnh đã lâu, sau khi Ốm nặng nguyên khỉ chưa hồi phục.

Chứng Tỳ khí hư ở trẻ sơ sinh và nhi đồng, phần nhiều biểu hiện rối loạn tiêu hóa, nôn mửa, gày còm mà bụng trướng to, sác mặt xanh nhọt, không tươi; Người cao tuổi thể lực yếu xuất hiện chứng Tỳ khí hư phàn nhiều thân thể nặng nề, tứ chi vô lực, mỏi mệt thích nằm; Người ốm lâu hoặc sau khi ốm nặng vìía khỏi mà có chứng Tỳ khí hừ, phần nhiều gày còm, yếu sức, tiếng nới thấp nhò. sắc mặt úa vàng, động làm thỉ hụt hơi…

Tỳ với VỊ đều ở Trung tiêu, mục Tỳ VỊ chư môn sách Chư Bệnh nguyên hậu luận nđi: “Tỳ là tạng, Vị là phủ; hai khí Tỳ VỊ biểu lý với nhau. Vị nhân đồ ân mà Tỳ làm ngấu nhít, hai khí điều hoà thì đồ ãn biến hòa mà ãn được. Một khỉ Tỳ khí hư, hiếm có trường hợp VỊ khí không hư, cho nên lâm sàng thường nói gồm cả “Tỳ Vị khí hư”, cả hai không thê’ tách rời hoàn toàn. Nhưng phân biệt cho cặn kẽ, cả hai lại có chỗ khổng giỗng hản nhau, nếu lấy Tỳ khí hư là chử yếu, công nãng ngấu nhừ không được mạnh, ăn ít và không ngon, bụng trướng đậi tiện nhiĩo. Nếu lấy Vi khí hư là chủ yếu thì công năng đón nhận đồ ãn không tốt, ợ hơí, lợm lòng nôn mửa. Tỳ VỊ khí hư, lâm sàng điều trị nên bổ Tỳ khí, hỗ trợ thêm thuốc tiêu đạo, cho uống bài Tra khúc lục quân tử thang (Y biền).

Chẩn đoán phân biệt

Chứng Tỳ dương hư với chứng Tỳ khí hư: Khí cũng thuộc Dương, khí hư thường là giai đoạn đàu cúa Dương hư, mà Dương hư thường lại là một bước phát triển của Khí hư.

Bệnh cơ đặc điểm của chứng Tỳ khỉ hừ, chủ yếu là ở cơ nàng kiện vận của Tỳ bị giảm sút. Mục Tỳ VỊ chư luận sách Chư bệnh nguyên hậu luận viết: “Tỳ khí ma sát cho tiêu đi thì ăn được”, “ãn không tiêu là do Tỳ không ma sát”. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chứng Tỳ khí hư là ăn Uống sút kém, hoặc do “ăn không tiêu” dẫn đến bụng trướng đày, ỉa chẩy đồ ãn không tiêu; Tỳ khí hư thì nguồn sinh hóa khí huyết bất túc., cơ nhục ở tay chân thiếu khí huyết^íiuôi dưỡng, biểu hiện các chứng chân tay mình mẩy mỏi mệt yếụ sức, sác mật vàng bủng, gày cò]tn, lưỡi nhợt, mạch Nhược.

Tỳ dương hư thì ngoài những chứng trạng .như Tỳ khí hư nói ở trên, tất phải biểu hiện hàn chứng thụộc “dương hư thì hàn” mà sợ lạnh, tay chân lạnh, hoặc là vùng bụng đau ưa ấm ưa xoa bóp; hoặc là sôi bụng ỉa chẩy ra đồ ãn không tiêu, tiểu tiện không lợi, mình mẩy chân tay phù thũng; hoặc là miệng mửa rãi trong; hoăc ìà mạch Trầm Trì Tế Nhược, đó là những đậc trưng của dương hư bất túc.

Điểm Ghủ .yếu để phân biệt giữa hai chứng là có hạy không có hiện tượng Hàn chứng: Dương hư thì hàn; Khí hư thì không biểu hiện hiện tượng hàn. Chứng Tỳ dương hu phần nhiều do Tỳ khí hư phát triển nên. Nểu bi bệnh đột ngột mà xuất hiện Tỳ dương bất tức, thi đa. số do âm hàn nội thịnh hoặc hàn tà1 trực trúng Thái âm Tỳ thổ gây nên.

Chứng Tỳ hư thấp khốn với chứng Tỳ khí hư: Thấp là âm tà, nguyên nhân dẫn đến thủy thãp thịnh ở trong, nhẹ thỉ do Tỳ khí bất túc, mất chức náng vận chuyển mạnh nên không hóa được thủy cốc; Nặng thì do Tỳ dương khốíig mạnh mà thủy thấp ứ đọng. Loại trên, biểu hiện chủ yếu là đàu mình chân tay nặng nề khổ sở, rêu lưỡi tráng nhớt; Loại sau biểu hiện chủ yếu là chân tay lạnh sợ lạnh, hoậc là đàm ẩm, hoặc là thủy thũng v.v…

Nói chung, cái bảo là Tỳ hư tháp khốn là chỉ Tỳ khí hư mà bị Thấp tà nó làm cho khốn đốn, nguyên nhân phần nhiều do ăn quá nhiều đồ sống lạnh hoặc cơ thể nội thấp vốn thịnh lại ãn quá nhiều đồ sống lạnh, nàm ngôi nơi ẩm ướt đến nỗi thấp làm khốn đốn Tỳ thổ. Chứng Tỳ hư thấp klựm nếu trước tiên do Tỳ hư mà thủy thấp khộng hóa được gây nên, phần nhiều thuộc chứng Bản hư Tiêu thực hoặc Hư Thực lẫn lộn, nếu bệnh trình dàng dai lâu ngày, tương đối khđ chữa. Nếu vì ăn quá nhiều đồ sống lạnh hoặc nằm ngồi nơi ẩm ướt, tà khí thủy thấp từ ngoài mà vào, thì đa số là Thực chứng, bệnh trình cũng ngắn, chữa khỏi dễ dàng Chứng Tỳ hư thấp khốn với chứng Tỳ khí hư, yếu điểm để phân biệt ở chỗ: loại trên là loại Thấp tà hữu hình, là Thực chứng; Loại sau là Khỉ hư vô hình, là Hư chứng.

Chứng Tâm Tỳ đều hư với chứng Tỳ khí hư: Chứng Tâm Tỳ đều hư là chi Tỳ khí vìía hư lại có thêm biểu hiện lâm sàng Tâm huyết bất túc. vì Tỳ khí hư, nguồn sinh hóa ở Trung tiêu bất túc, tinh vi của thủy cốc không hóa sinh ra huyết, cho nên huyết thiếu mà Tâm mất sự nuôi dưỡng hình thành Tâm huyết bất túc, xuất hiện các chứng trạng tâm quý hồi hộp, hay quên, mất ngủ, hay mê; Thường vỉ tư lự quá độ lao thương Tâm Tỳ đến nỗi Tỳ khí bất túc, Tỳ không vận chuyển mạnh, khí thiếu huyết hư, Tâm thần không được nuôi dưỡng. Mục Kiện vorig luận trị sách Tế sinh phương nói: “Tỳ chủ ý và “tư”, Tâm cũng chủ “tư”, tư lự quá độ, nơi chứa ý không tập trung khiến người ta chóng quên’.

Chứng Tâm Tỳ đều hư, phân tích theo bệnh nhân và bệnh cơ, Tỳ Khí hư đứng trước tiên mà Tâm huyết hư ở phía sau, cho nên bổ Tỳ tức là GÓ thể dưỡng Tâm. Hoặc là ưu tư khí kết, hoặc ân uống không điều độ, hoặc ốm lâu thiếu chăm sóc, tạo nên Tỳ khí hư không hđa sinh Tâm huyết; hoặc Tỳ khí hư mà không nhiếp được huyết liền phát sinh hàng loạt chứng trạng xuất huyết; tạo nên huyết thiếu mà Tâm mất sự nuôi dưỡng, đều là những

nguyên nhân hình thành Tâm huyết bất túc. Từ biểu hiện chứng trạng lâm sàng mà xét, chứng Tâm Tỳ đều hư ngoài Tỳ khí bãt túc ra, nên có các chứng trạng chóng quên, hồi hộp vì Tâm huyết bất túc; Về điều trị cũng nên lấy bổ Tỳ làm chủ yếu hỗ trợ thuổ®»dưỡng Tâm an thần. Chứng Tâm Tỳ đều hư với chứng Tỳ khí hư tuy đều có biểu hiện là Tỳ khí bất túc, nhưng loại trên phải có các chứng trạng huyết không nuôi Tâm nên phải hồi hộp chđng quên, khác với chửng đơn thuần Tỳ khí hư, có thể phân biệt được.

Trích dẫn y văn.

Tỳ Vị thuộc Thổ. vị trí ở giữa cơ thể, trong năm Tạng gọi là Cô tạng, trong Tam tiêu gọi là Trung tiêu. Trung tiêu chuyên điều trị ở giữa… Tỳ bất túc, lấy vị ngọt để bổ; bổ trung giúp Tỳ, tất phải dùng thang thuốc có vị ngọt (L/OO quyện sỏ thương hư trung hữu hàri – Vệ sinh bảo giậmJ.

Tỳ khi tổn thương, mạch Phù Đại mà vô lực… Lại có mạch Đại, no đầy, có vẻ giống như thực trệ Đó là Tỳ khí hư mà xuãt hiện giả tượng <Tỳ Vị – Y thuật).

Tỳ hư, mạch hữu quan tất phải Tế Nhuyễn, có những chứng trạng nôn mửa, tiết tả, cửu lỵ, phúc thống, là chân tay mềm yếu, là mặt vàng, phát phù thũng, da thịt gày, là cổ trướng, là ố hàn, tự ra mò hôi, là tích trệ không tiêu, là ãn uổng không tiêu hóa, là thoát giang, là chẩy máu ruột (Tỳ bộ – Bút hoa y kính).

Bài viết liên quan

Leave a Comment