1
Bạn cần hỗ trợ?
Hội chứng bệnh theo YHCT

Chứng huyết hàn

I Khái niệm

Chứng Huyết hàn là tên gọi chung cho trường hợp tà khí âm hàn xâm phạm huyết phận hoặc khí hư không được sưởi ấm dẫn đến biểu hiện lâm sàng huyết mạch bị ngưng trệ gây nên co rút.

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là taỵ chân tê dại, da dẻ không nhuận; chân tay mát lạnh, sợ lạnh, vùng ĩígực bụng lạnh đau gặp nóng thì đỡ, chu kỳ thấy muộn và rối loạn, thống kỉnh, mạch Te ipà Hoãn v.v.

Chứng Huyết hàn thường gặp trong các bệnh Đống thương, Trúng hàn, Thoát thư, Phúc thống và phụ nữ kinh nguyệt không đều v.v.

Cần chẩn đoán phân biệt với chứng Huyết ứ.

Phân tích.

Chứng Huyết hàn cđ thể xuất hiện trong nhiều tật bệnh. Như trong bệnh Đống thương – thui chột vì rét – thường phát sinh ở các bộ phận hở của cơ thể như ngón tay, ngón chân, tai, mũi; đầu tiên lớp da ở cục bộ trắng xanh, lạnh đau tê dại, sau đó là đỏ tối và sưng lan tỏa, hoặc xanh tía thành cục, đau buốt và ngứa. Đây là do hàn tà xâm phạm vào cơ biểu làm tổn thương huyết mạch, khí huyết ngưng trệ gây nên. Sách Ngoại khoa chính tông viết: “Đống sương là do thời tiết băng giá rét buốt, khí huyết ngưngđọng thành bệnh”. Điều trị nên theo phép ôn dương tán hàn, điều hòa doatìh vệ, dùng bài Quế chi gia đương qui thang (Trung y ngoại khoa học) pha thậm Hoàng tửu cho uống.

Nếu Huyết hàn trong bệnh Trúng hàn, biểu hiện lâm sàng là rét run đột ngột, mặt xanh nghiến răng, thổ tả đau bụng, chân taỹ giá btiốt, hớặc chân tay co rúm, mạch Vi muốn tuyệt* Đây là do thể’ chất vốn hư yếu lại trúng phải hàn “khí của thời tiết, hoặc bên trong bị nhiễm lạnh do đồ ăn uống gây nên; Diều trị nên ôn dương tán hàn, điều bổ khí huyết, dùng Sâm Phụ thang (Phụ nhăn lương phương) hợp với Hoàng tửu cho uống.

Trong bệnh Thoát hư xuất Tliệĩi chứng Huyết hàn, thường biểu hiện sác mặt nhạt tối không tươi, ưa ấm sợ lạnh, chi bị đau tê dại, bắp chân đau rút, ngọn chân đỏ tối hoặc tim tái mà lạnh buốt, da thịt teo tóp, móng chân dày cộp, đau nhức dữ dội có khi suốt đêm không ngủ được, lưỡi tía tối, mạch Huyền Tế mà Trì Săc; Dây là do Can Thận bất túc, ngoại cảm hàn tà đến .nỗi hàn ngựng huỵết trệ, nghẽn tắc kinh mạch gây nên; Điều trị nên ôn dương tán hàn, hoạt huyết thông lạc, cho ụống Dương hòa thang (Ngoại khoa toàn sinh tập) hợp với Đào hòng Tứ vật thang (Phụ khoa tâm pháp yéu quyết – Y tông kUn giậm).

Trong bệnh Phúc thống xuất hiện chứng Huyết hàn, cổ chứng trạng bụng dưới đau nhđi hoặc đau hướng lan tỏa tới- cao hoàn cũng trệ và đau, thộtn chí đau thúc tới liên sườn, đòng thời tay chân lạnh, sợ lạnh, rêu lưỡi tráng trơn, mạch Trầm Huyền hoặc Trì; Đây là do hạ tiêu hư hàn Isu cảm thụ hàn tà, hàn tà ngưng đọng ở Can mạch gây nên; Diều trị nên ôn Can tán hàn, cho uống Ôn kinh thang (Kim quỉ yếu lược) giạ giảm Chứng Huyết hàn xuất hiện khá nhiều ở người cao tuổi thể lực yếu, bởi vì người cao tuổi nguyên dương suy dần, huyết không được sưởi ấm, thường cđ những chứng tinh thần bạc nhược, sắc mặt kém tươi, bắp chân bị chuột rút, cơ bắp đau mỏi, chân tay lạnh, sợ lạnh. Phụ nữ gập chứng Huyết hàn, biểu hiện chủ yếu là kinh nguyệt quá kỳ, vừa rít vừa ỉt không thông lợi, sác tối nhạtxộ h$i cục, hoặc có cốc chứng bế kỉnh, thống kinh, sau khi đẻ ác lộ ra KỊiông sạch, bụng dưới lạnh đau, lạc mạch nghẽn trệ, tử cung bị lạnh khống thụ thai. .

Hàìi là âm tà, tính ngưng trệ; Hàn tà ổn náu trong huyết mạch, làm cho huyết mạch.ngưng rit không thông, lạc mạch nghẽn trệ, bịếỊX thành chứng hàn ẩn náu huyết ứ, nặng hơn thi thành Trưng tích.

Chẩn đoán phân biệt

Chứng Huyết ứ vỗi chứng Huyết hàn, cả hai đều cđ chứng tráng huyết mạch ngưng trệ, về nguyên nhân và cơ chế bệnh c<5 liên quan rất chạt chẽ nhưng: cũng cđ chỗ khác bịệt nhẩt định. Nói theo nguyên nhân bệnh, chứng Huyết hàn phần nhiều do cơ thể vđn dương hư, hàn tà ẩn náu ở trong huyết mạch đến nỗi huyết vận hành chậm chạp; Huyểt hàn là một trong những nguyên nhân gây nén huyết ứ. Chửng Huyết ứ lại là kết quả cửa chứng Huyết hàn phát triển thềm một bước. Chỗ khác nhau là chứng Huyết hàn vừa có những hiện tượng về hàn như cơ thể lạnh chân tay lạnh, nơi đau tfa ấm, gặp ấm thỉ đỡ đau, vừa cổ cấc chúng trạng của ứ húyết như đau như dùi dâm, c6 định khống di chuyến, nặng hơn thì cổ trưng tích bòn cục, lưỡi cớ nốt ứ húyết, mạch Trầm Trì v.v. Rõ ràng là khốc với chứng Huỹết ứ đơn thuàĩi, chẩn đoán ph&n biệt không khđ khăn.

‘ IV. Trích dẫn y văn ‘ 4

-Hàn khí phạm vào Kinh thì lưu thông trì. trệ. Ẩn náu ỏ ngoài mạch thì huyết thiếu; ẩn náu ở trong , mạch thì khi không

thông, cho nên có chứng đau đột ngột (Củ thống luận – Tố Ván).

Chứng Huyết hàn làm cho cơ bắp tê dại mềm nhũn, da dẻ không nhuận, chân tay mát lạnh; vùng Tâm phúc sợ lạnh, trong bụng có hòn cục và đau, gặp nhiệt thì bết đau; Ò phụ nữ thì kinh nguyệt bị xụt ngày mà đau bụng, mạch Tế mà Hoãn; phép chữa nên làm cho ấm (Huyết -chứng – Chứng trị vậng bổ).

Các chứng Huyết hàn hay Huyết hư, đều thuộc thời kỳ cuối của bệnh. Nhưng Huyết vỉ sao mà bị Hàn? Không phải là âm hàn từ bên ngoài lấn vào; tìt sổng lạnh bên trong làm tổn thương. Bởi lý’dó dương khí bất túc không gặp lúc xuân hòa, đến nỗi tÂn dịch không đày đủ được, cho nêh khống thể đúng kỳ mà đến vậy (Kinh mạnh môn – La thị hội ước y kính).

Bài viết liên quan

Leave a Comment